Bộ Xây dựng vừa giải đáp nhiều vướng mắc về nhà ở xã hội như điều kiện nhà ở, thu nhập, trường hợp có đất nhưng chưa có nhà hay nhà ở xa nơi làm việc.
Bộ Xây dựng vừa có loạt giải đáp liên quan điều kiện mua, thuê mua nhà ở xã hội, tập trung vào nhiều vấn đề được người dân quan tâm như: đã có đất nhưng chưa có nhà ở có được mua nhà ở xã hội hay không, được bồi thường đất tái định cư có bị xem là đã hưởng chính sách nhà ở, hay trường hợp nhà ở cách xa nơi làm việc có còn đủ điều kiện đăng ký.
Theo Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, để được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, người dân phải thuộc nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo Điều 76 Luật Nhà ở 2023, đồng thời đáp ứng điều kiện về nhà ở và thu nhập theo quy định.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc nhóm đối tượng số 8 tại Điều 76 Luật Nhà ở 2023, điều kiện về nhà ở được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở 2023. Theo đó, người đăng ký mua nhà ở xã hội phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố nơi có dự án nhà ở xã hội; chưa từng mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội; chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại địa phương đó hoặc có nhà ở nhưng diện tích bình quân đầu người thấp hơn mức tối thiểu theo quy định.

Liên quan băn khoăn về việc được Nhà nước bồi thường đất ở tái định cư khi giải phóng mặt bằng có bị xem là đã hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở hay không, Bộ Xây dựng cho biết pháp luật hiện hành quy định riêng đối với trường hợp bị thu hồi đất, phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở.
Cụ thể, khoản 10 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 xác định đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội là hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở nhưng chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở hoặc đất ở. Như vậy, trường hợp đã được bồi thường bằng đất ở tái định cư sẽ không còn thuộc nhóm đối tượng này.
Tuy nhiên, Bộ Xây dựng cũng dẫn Nghị quyết số 201/2025/QH15 của Quốc hội, trong đó cho phép trường hợp có nhà ở nhưng cách xa nơi làm việc vẫn có thể được mua, thuê mua nhà ở xã hội. Việc xác định khoảng cách cụ thể sẽ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp điều kiện thực tế từng địa phương.
Với trường hợp người dân đã có đất đứng tên trên sổ đỏ nhưng chưa có thông tin về nhà ở trên giấy chứng nhận, Bộ Xây dựng cho biết pháp luật về nhà ở hiện không quy định điều kiện về đất ở mà chỉ xem xét điều kiện về nhà ở.
Theo Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2024/NĐ-CP, trường hợp người đứng đơn và vợ hoặc chồng không có tên hoặc không có thông tin về nhà ở trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương có dự án nhà ở xã hội thì được xác định là chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình.
Điều này đồng nghĩa, người dân có đất nhưng trên giấy chứng nhận chưa có thông tin nhà ở vẫn có thể đáp ứng điều kiện về nhà ở để mua nhà ở xã hội nếu đủ các điều kiện khác theo quy định.
Ngoài điều kiện về nhà ở, điều kiện thu nhập cũng được Bộ Xây dựng làm rõ đối với nhóm người thu nhập thấp khu vực đô thị.
Đáng chú ý, với trường hợp gia đình chưa có nhà ở, đang ở nhờ nhà người thân và có thành viên khuyết tật, Bộ Xây dựng cho biết vẫn có thể được xem xét mua, thuê mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng điều kiện theo quy định.
Theo đó, trường hợp người dân chưa có nhà thuộc sở hữu của mình, đang ở chung với gia đình bên ngoại, thuộc nhóm người thu nhập thấp khu vực đô thị thì có thể thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội.
Về điều kiện thu nhập, theo Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung, trường hợp người đã kết hôn thì tổng thu nhập thực nhận bình quân hàng tháng của hai vợ chồng không quá 50 triệu đồng. Với người độc thân, mức thu nhập không quá 25 triệu đồng/tháng; trường hợp độc thân đang nuôi con chưa thành niên không quá 35 triệu đồng/tháng.
Đối với người không có hợp đồng lao động, công dân được tự kê khai và cam kết về thu nhập. Công an cấp xã nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi ở hiện tại sẽ thực hiện xác nhận thông tin nhân thân phục vụ việc xét duyệt hồ sơ.
Theo Bộ Xây dựng, pháp luật hiện hành không bắt buộc cả hai vợ chồng đều phải có hợp đồng lao động. Vì vậy, trường hợp một người có hợp đồng lao động, người còn lại buôn bán nhỏ, chăm con và không có hợp đồng lao động vẫn có thể được xem xét nếu đáp ứng điều kiện về nhà ở và tổng mức thu nhập theo quy định.