Khi anh H đột ngột qua đời, Công ty TNHH NTN chỉ công nhận các khoản tiền đã được chuyển về công ty và hướng dẫn cư dân tự yêu cầu gia đình anh H giải quyết phần còn lại.
Cư dân tại tòa nhà HMC (Hà Đông, Hà Nội) hỏi: Công ty TNHH NTN là đơn vị được phép khai thác, sử dụng phần hầm gửi xe của chung cư. Công ty giao cho một cá nhân tên H. trực tiếp quản lý việc thu tiền gửi xe của cư dân. Trong nhiều năm, anh H. thường xuyên yêu cầu một số hộ dân thanh toán tiền gửi xe ô tô theo thời hạn dài, có trường hợp đóng trước từ 1-2 năm. Người dân thực hiện việc thanh toán cho anh H vì cho rằng đây là người được Công ty TNHH NTN giao nhiệm vụ thu tiền và quản lý hoạt động gửi xe.
Tuy nhiên, số tiền anh H. thu trước của người dân được cho là không chuyển toàn bộ về công ty ngay mà anh vẫn chuyển tiền về Công ty TNHH NTN theo từng tháng.
Tháng 6 vừa qua, anh H đột ngột qua đời. Sau đó, Công ty TNHH NTN chỉ xác nhận những tháng mà anh H. đã chuyển tiền về công ty. Đối với khoản tiền một số cư dân đã đóng trước 1-2 năm nhưng chưa được anh H. chuyển về công ty, phía công ty cho rằng đây là quan hệ dân sự giữa cư dân và anh H, đồng thời hướng dẫn người dân tự yêu cầu gia đình anh H. giải quyết.
Vậy tiền chúng tôi đã nộp cho anh H. có được tính là đã thanh toán cho công ty? Nếu anh H. thu trước 1-2 năm nhưng chỉ chuyển về công ty từng tháng, trách nhiệm của công ty với khoản tiền này thế nào? Sau khi anh H. đột ngột qua đời, công ty cho rằng tiền đóng trước là quan hệ giữa cư dân và anh H, yêu cầu cư dân tự đòi gia đình anh H.. Vậy cách xử lý này có đúng pháp luật? Chúng tôi cần làm gì và yêu cầu bên nào hoàn trả khoản tiền đã đóng?

Theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015, đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Đối chiếu với tình huống này, nếu Công ty giao anh H. trực tiếp thu tiền gửi xe thì anh H. thực hiện việc nhận tiền với tư cách người được Công ty ủy quyền. Nếu việc thu tiền nằm trong phạm vi đại diện, giao dịch do anh H. thực hiện với cư dân làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với Công ty theo Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Việc anh H. sau đó chuyển tiền về Công ty ngay hay chỉ chuyển từng tháng không làm thay đổi việc thanh toán của cư dân, nếu khoản tiền được thu trong phạm vi công việc được Công ty giao. Việc anh H. có nghĩa vụ giao lại tài sản đã nhận cho Công ty là vấn đề trong quan hệ giữa anh H. và Công ty. Khoản 5 Điều 565 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bên được ủy quyền phải giao lại cho bên ủy quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc ủy quyền.
Đối với phần tiền cư dân đóng trước từ 1-2 năm, cần xác định rõ phạm vi đại diện mà Công ty giao cho anh H., đặc biệt là anh H. có được phép thu tiền theo thời hạn dài hay chỉ được thu theo từng tháng.
Nếu việc thu tiền trước 1-2 năm nằm trong phạm vi được Công ty giao thì khoản tiền cư dân đã nộp cho anh H. về nguyên tắc là khoản tiền đã thanh toán cho Công ty. Việc anh H. chưa chuyển toàn bộ số tiền này về Công ty không làm thay đổi nghĩa vụ của Công ty đối với cư dân; đây là vấn đề cần được giải quyết trong quan hệ giữa Công ty và anh H.
Trường hợp Công ty cho rằng anh H. chỉ được phép thu tiền từng tháng nhưng đã tự ý thu trước 1-2 năm thì cần xác định đây có phải là giao dịch vượt quá phạm vi đại diện hay không.
Theo Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện về nguyên tắc không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện đối với phần vượt quá. Tuy nhiên, giao dịch vẫn có thể làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với Công ty nếu Công ty đồng ý; biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; hoặc có lỗi dẫn đến việc cư dân không biết hoặc không thể biết anh H. đã vượt quá phạm vi đại diện.
Vì vậy, trong trường hợp này cần làm rõ Công ty có biết việc anh H. thu tiền trước 1-2 năm hay không, việc này diễn ra trong thời gian bao lâu, Công ty có phản đối hoặc có biện pháp ngăn chặn hay không; đồng thời xem xét các tài liệu thể hiện phạm vi công việc mà Công ty giao cho anh H.
Nếu Công ty biết việc thu tiền trước diễn ra trong thời gian dài nhưng không phản đối, hoặc có lỗi khiến cư dân không biết và không thể biết về giới hạn phạm vi đại diện, thì không thể chỉ căn cứ vào việc anh H. chưa chuyển tiền về Công ty để phủ nhận trách nhiệm đối với khoản tiền cư dân đã nộp.

Việc anh H. qua đời không đương nhiên làm thay đổi quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ những giao dịch mà anh H. đã thực hiện trong phạm vi đại diện.
Do đó, trước hết cần xác định anh H. đã thu tiền với tư cách người được Công ty giao thu tiền hay tự ý thu tiền ngoài phạm vi được giao. Nếu khoản tiền được xác định là khoản thanh toán cho Công ty thì Công ty không thể chỉ dựa vào việc anh H. đã qua đời và chưa chuyển tiền về Công ty để yêu cầu cư dân tự giải quyết với gia đình anh H.
Trường hợp có căn cứ xác định anh H. tự ý thu tiền hoàn toàn ngoài phạm vi đại diện và giao dịch không làm phát sinh nghĩa vụ của Công ty, khi đó mới đặt ra vấn đề yêu cầu người có nghĩa vụ hoặc những người thừa kế của anh H. thực hiện nghĩa vụ tài sản theo quy định pháp luật về thừa kế.
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Điều 615 quy định những người hưởng thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại. Như vậy, người thừa kế không đương nhiên phải dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết vượt quá phạm vi di sản.
Cư dân nên tập hợp toàn bộ tài liệu chứng minh việc đã thanh toán và tư cách thu tiền của anh H., gồm: phiếu thu, giấy biên nhận, sao kê chuyển khoản, thẻ gửi xe, thông báo của Công ty hoặc Ban quản lý và các tài liệu khác thể hiện Công ty giao anh H. thực hiện việc thu tiền.
Tiếp đó, cư dân nên gửi văn bản yêu cầu Công ty đối chiếu, xác nhận khoản tiền đã thanh toán và làm rõ phạm vi công việc, phạm vi thu tiền mà Công ty đã giao cho anh H.
Đặc biệt, đối với các khoản đóng trước 1-2 năm, cư dân cần yêu cầu Công ty làm rõ căn cứ nào để cho rằng anh H. không được phép thu tiền trước; đồng thời đề nghị Công ty cung cấp hoặc đối chiếu các tài liệu liên quan đến phạm vi đại diện, quy trình thu tiền và việc quản lý các khoản tiền anh H. đã thu.
Nếu Công ty vẫn từ chối xác nhận khoản tiền cư dân đã thanh toán, cư dân có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp và xác định trách nhiệm của các bên.
Chỉ khi có căn cứ xác định khoản tiền không làm phát sinh nghĩa vụ của Công ty do anh H. đã tự ý thực hiện giao dịch ngoài phạm vi đại diện, đồng thời không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì mới xem xét yêu cầu người có nghĩa vụ hoặc những người thừa kế của anh H. thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mà anh H. để lại.