Mặt bằng giá thu mua cà phê nội địa lùi về 93.200 - 94.000 đồng/kg trong khi sàn London và New York tiếp tục đi xuống do nguồn cung từ Việt Nam và Brazil tăng.
Thị trường cà phê nội địa ngày 5/9 ghi nhận mức điều chỉnh giảm 500 đồng/kg tại các vùng nguyên liệu trọng điểm khu vực Tây Nguyên, đưa giá thu mua dao động trong khoảng 93.200 - 94.000 đồng/kg. Cùng lúc đó, các hợp đồng cà phê kỳ hạn quốc tế trên hai sàn London và New York đồng loạt suy yếu trước triển vọng nguồn cung dồi dào từ Việt Nam và Brazil.
Mức giảm 500 đồng/kg đã nối dài đà trượt giá của thị trường trong nước sau khi mốc 95.000 đồng/kg bị xuyên thủng trong phiên liền trước.
| Địa phương | Mức giá (VND/kg) | Biến động so với phiên trước (VND/kg) |
|---|---|---|
| Đắk Nông | 94.000 | -500 |
| Đắk Lắk | 93.700 | -500 |
| Gia Lai | 93.700 | -500 |
| Lâm Đồng | 93.200 | -500 |
Tại các điểm khảo sát, Đắk Nông duy trì mức giá cao nhất ở ngưỡng 94.000 đồng/kg. Hai địa phương Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giá 93.700 đồng/kg.

Lâm Đồng ghi nhận mức thu mua thấp nhất ở 93.200 đồng/kg. Ngoại trừ Đắk Nông còn giữ được mốc 94.000 đồng/kg, các địa bàn còn lại đều đã lùi xuống dưới ngưỡng này trong bối cảnh giao dịch trầm lắng.
Trên thị trường thế giới, áp lực nguồn cung khiến giá kỳ hạn của cả hai loại cà phê chủ chốt nối dài nhịp điều chỉnh. Theo hãng tin Reuters, giá arabica đã rơi xuống mức thấp nhất trong 5 tuần, trong khi robusta lùi về vùng đáy 2,5 tháng.
Tại sàn London, giá robusta kỳ hạn giao tháng 9/2026 giảm 0,81% (tương đương 27 USD/tấn), xuống còn 3.298 USD/tấn. Hợp đồng kỳ hạn giao tháng 11/2026 giảm 0,94% (tương đương 32 USD/tấn), đóng cửa ở mức 3.374 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá arabica kỳ hạn giao tháng 9/2026 giảm 1,23% (tương đương 4,05 US cent/pound), đạt 324,35 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 0,92% (tương đương 2,75 US cent/pound), chốt tại 295,35 US cent/pound.
Áp lực giảm đối với robusta gia tăng khi lượng xuất khẩu từ Việt Nam ghi nhận sự cải thiện rõ nét. Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,33 triệu tấn cà phê, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu giảm 8,6%, về mức xấp xỉ 6 tỷ USD, phản ánh mặt bằng giá xuất khẩu bình quân thấp hơn so với năm trước. Riêng trong tháng 8/2026, khối lượng xuất khẩu ước đạt 132.000 tấn, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh đó, lượng hàng robusta đạt chuẩn tại hệ thống kho của sàn ICE cũng đang trên đà bổ sung, góp phần hạ nhiệt bớt những lo ngại về sự thiếu hụt hàng hóa cục bộ.
Tại Brazil, quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, hoạt động xuất khẩu đang được đẩy nhanh khi mùa thu hoạch bước vào giai đoạn cuối. Chuyên gia phân tích Judy Ganes nhận định lượng cà phê lưu trữ tại các kho của Brazil đang tăng dần, hỗ trợ giảm bớt căng thẳng nguồn cung cho thị trường kỳ hạn.
Tổ chức StoneX dự báo sản lượng cà phê của Brazil trong niên vụ 2026-2027 có thể đạt 77,2 triệu bao (loại 60 kg), tăng 2,6% so với ước tính hồi tháng 3. Điều kiện thời tiết với lượng mưa thuận lợi do ảnh hưởng từ hiện tượng El Niño đã kích thích cây cà phê tại một số khu vực của Brazil bung hoa sớm từ tháng 8, tạo tiền đề cho các dự báo nguồn cung tích cực trong giai đoạn tiếp theo.