Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 7/9 duy trì trạng thái ổn định khi lúa tươi chững đà giảm, trong khi nhóm gạo nguyên liệu giữ vững giá sàn.
Thị trường lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 7/9 tiếp tục xu hướng đi ngang sau các đợt điều chỉnh trước đó. Áp lực bán tháo đã hạ nhiệt giúp giá lúa tươi tạm ngừng đà giảm, trong khi gạo nguyên liệu vẫn giữ vững mặt bằng giá hiện tại.
Diễn biến này cho thấy cung - cầu đang tạm thời cân bằng, nhưng thị trường vẫn thiếu lực mua đủ mạnh để hình thành một xu hướng tăng mới.

Khảo sát thực tế cho thấy các giống lúa chất lượng cao và lúa thơm tiếp tục giữ mức giá cao nhất toàn vùng. Nhờ áp lực nguồn cung không quá lớn, các chủng loại lúa đều ghi nhận mức giá tương đương phiên giao dịch liền trước.
| Chủng loại lúa | Mức giá (VND/kg) | Biến động so với phiên trước |
|---|---|---|
| Lúa OM 18 | 6.500 - 6.700 | Đi ngang |
| Đài Thơm 8 | 6.500 - 6.700 | Đi ngang |
| OM 5451 | 6.400 - 6.500 | Đi ngang |
| IR 50404 | 6.200 - 6.400 | Đi ngang |
| OM 34 | 5.800 - 5.900 | Đi ngang |
Thị trường hiện ghi nhận trạng thái giằng co rõ rệt. Nông dân hạn chế hạ thêm giá bán sau khi mức giá đã giảm sâu, trong khi thương lái chỉ mua vào theo hợp đồng thực tế thay vì chủ động tích lũy số lượng lớn.
Phân khúc gạo nguyên liệu cho thấy khả năng giữ giá tốt hơn lúa tươi. Cụ thể, gạo OM 5451 dẫn đầu phân khúc với mức 9.300 - 9.400 VND/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 VND/kg; IR 504 và CL 555 cùng neo ở mức 8.900 - 8.950 VND/kg. Giống OM 18 được giao dịch ở ngưỡng 8.700 - 8.850 VND/kg; OM 380 và Sóc thơm dao động quanh 7.500 - 7.600 VND/kg.
Đối với phụ phẩm, tấm thơm duy trì ổn định ở mức 8.600 - 8.700 VND/kg, còn cám giữ mức 7.500 - 7.600 VND/kg. Trên thị trường bán lẻ, gạo Nàng Nhen giữ giá 28.000 VND/kg; Hương Lài và gạo Nhật ở mức 22.000 VND/kg; Nàng Hoa có giá 21.000 VND/kg; gạo Jasmine từ 16.500 - 18.000 VND/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 VND/kg và gạo thường dao động 13.500 - 15.500 VND/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá chào bán gạo xuất khẩu của Việt Nam duy trì ổn định. Gạo Jasmine Việt Nam dao động ở mức 534 - 538 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm đạt 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm giữ mức 373 - 377 USD/tấn.
Tuy nhiên, phân khúc gạo phổ thông trong nước vẫn gặp sức ép cạnh tranh lớn từ các quốc gia xuất khẩu khác. Hiện gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ duy trì ở mức 364 - 368 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 370 - 374 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm của Pakistan ở mức 406 - 410 USD/tấn.
Triển vọng nhập khẩu từ thị trường Philippines được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực tiêu thụ trong giai đoạn cuối năm. Nếu các hợp đồng xuất khẩu mới sớm được kích hoạt, nhu cầu thu mua nguyên liệu của các doanh nghiệp sẽ tăng lên, tạo lực đỡ phục hồi cho giá gạo nguyên liệu trước khi lan tỏa đến thị trường lúa tươi.