Dù sở hữu lợi thế bản địa, các mặt hàng đặc sản vùng cao vẫn đối mặt thách thức lớn về kiểm định, bao bì và quy mô khi thâm nhập chuỗi phân phối quốc tế.
Nhiều mặt hàng đặc sản vùng cao và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu nhờ xu hướng tiêu dùng xanh trên toàn cầu. Tuy nhiên, năng lực đáp ứng rào cản kỹ thuật, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và hệ thống phân phối quốc tế vẫn là những thách thức cốt lõi đối với các hợp tác xã và doanh nghiệp trong nước.

Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nông sản vùng dân tộc thiểu số sở hữu thế mạnh tự nhiên đặc thù cùng giá trị dinh dưỡng cao. Bên cạnh chất lượng nguyên liệu, bản sắc văn hóa và tri thức bản địa là yếu tố gia tăng giá trị cạnh tranh, tiêu biểu như các dòng sản phẩm trà Shan tuyết cổ thụ.
Mặc dù vậy, khoảng cách từ một sản phẩm đặc thù truyền thống đến một mặt hàng thương mại quốc tế còn tương đối lớn. Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đánh giá nhiều đơn vị đã có sản phẩm chất lượng nhưng năng lực xuất khẩu vẫn chưa theo kịp. Phần lớn các chủ thể sản xuất có quy mô khiêm tốn, nguồn lực tài chính, công nghệ và dữ liệu thị trường còn hạn chế trong khi chuỗi giá trị đòi hỏi nhiều khâu phức tạp.
Dưới góc độ thực tế tại địa phương, bà Nguyễn Thị Bích Thu, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và xúc tiến thương mại tỉnh Gia Lai cho biết, địa phương có lợi thế dồi dào về cà phê, hồ tiêu, mắc ca, hạt điều và dược liệu. Tuy vậy, hàng hóa của khu vực này hiện đa phần chỉ dừng ở khâu cung ứng nguyên liệu thô cho các đơn vị chế biến, chưa thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị gia tăng cao.
Bà Thu nhận định thêm, quy trình sản xuất manh mún, hàm lượng chế biến sâu thấp, chi phí logistics đắt đỏ cùng các thủ tục cấp mã vùng trồng, mã đóng gói đang tạo sức ép lớn lên các hộ kinh doanh. Điển hình từ thực tế xuất khẩu, bà Trần Minh Anh, đại diện Hợp tác xã Miến dong Tài Hoan chia sẻ, đơn vị đã mất hơn một năm để kiểm nghiệm dư lượng, chuẩn hóa nhãn mác và hoàn thiện thủ tục hải quan cho một đơn hàng đi quốc tế.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, ba rào cản thương mại kỹ thuật hiện hữu gồm: chuẩn hóa kiểm định chất lượng; thiết lập quy trình chế biến cấp mã số; và thiết kế bao bì theo tiêu chuẩn từng quốc gia nhập khẩu. Chi phí tuân thủ các quy chuẩn khắt khe này thường vượt quá năng lực tài chính của nhiều hợp tác xã quy mô nhỏ.
Để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế, việc phân định lại phân khúc thị trường đóng vai trò then chốt. Chuyên gia khuyến nghị các đơn vị có sản lượng hạn chế nên tập trung vào thị trường ngách như hàng quà tặng hoặc phân khúc cao cấp, thay vì dàn trải nguồn lực vào các mạng lưới phân phối đại trà vốn đòi hỏi quy mô cung ứng lớn và liên tục.
Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ ngành nông sản cần chuyển dịch từ can thiệp nhỏ lẻ sang phát triển liên kết chuỗi toàn diện, tập trung vào hạ tầng dùng chung như kho lạnh, hệ thống kiểm định và chứng nhận chất lượng. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng cần gắn liền với việc xây dựng thương hiệu quốc gia, tạo sinh kế bền vững và nâng cao vị thế hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế.