Nhu cầu vốn 38,5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2030: Thị trường vốn cần chia sẻ áp lực tín dụng

Lâm Ai03/09/2026 04:18

Kinh tế Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030, đòi hỏi thị trường cổ phiếu và trái phiếu phát triển để giảm áp lực tín dụng.

Nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030. Trong bối cảnh hệ thống tín dụng ngân hàng chịu nhiều áp lực về nguồn vốn ngắn hạn và giới hạn cung ứng dài hạn, thị trường vốn gồm cổ phiếu và trái phiếu được định vị là kênh phân bổ nguồn lực trọng yếu.

Nền kinh tế đang phát triển mạnh, rất cần vốn cho sản xuất, kinh doanh, xây dựng hạ tầng
Nền kinh tế đang phát triển mạnh, rất cần vốn cho sản xuất, kinh doanh, xây dựng hạ tầng

Áp lực cân đối nguồn vốn dài hạn của hệ thống ngân hàng

Theo tính toán từ TS. Cấn Văn Lực, để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10% giai đoạn 2026-2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031-2045, khu vực tư nhân trong và ngoài nước cần đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương 65% tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội. Quy mô này buộc nền kinh tế phải đa dạng hóa kênh dẫn vốn thay vì phụ thuộc lớn vào ngân hàng thương mại.

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Đào Minh Tú nhận định, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực cân đối giữa nguồn vốn huy động và nhu cầu cho vay trung, dài hạn. Việc mở rộng thị trường chứng khoán và trái phiếu là điều kiện bắt buộc để san sẻ tải trọng tài chính cho hệ thống ngân hàng.

Chỉ số / Mục tiêuQuy mô / Tỷ lệGhi chú
Tổng nhu cầu vốn (2026-2030)38,5 triệu tỷ đồngPhục vụ mục tiêu tăng trưởng 10%
Vốn khu vực tư nhân cần đóng góp25,5 triệu tỷ đồngChiếm 65% tổng nhu cầu vốn
Tỷ lệ tín dụng / GDP146%Mức hiện tại của hệ thống
Hệ số an toàn vốn (CAR)12%Thấp hơn mức 15-18% quốc tế
Tỷ trọng tài khoản cá nhân98-99%Chiếm đa số trên thị trường chứng khoán

Đánh giá về cấu trúc an toàn, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Bùi Hoàng Hải cho biết, tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện đạt khoảng 146%. Đáng lưu ý, hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt Nam hiện đạt khoảng 12%, thấp hơn so với mức 15-18% phổ biến trên thế giới, trong khi nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn.

Hoàn thiện hạ tầng pháp lý và đa dạng hóa công cụ tài chính

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi nhấn mạnh sự cần thiết của cơ chế phối hợp giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng. Các giải pháp trọng tâm bao gồm nghiên cứu cho phép ngân hàng thương mại quản lý tài sản bảo đảm của tổ chức phát hành trái phiếu và tham gia hệ thống thanh toán, bù trừ trên thị trường chứng khoán.

Bộ Tài chính đã ban hành Đề án tái cấu trúc nhà đầu tư và phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán. Song song đó, UBCKNN đang nghiên cứu các thị trường mới dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, công cụ phái sinh và sản phẩm phòng ngừa rủi ro nhằm thu hút dòng vốn trong nước và quốc tế.

Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) Nguyễn Sơn cho biết, việc hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu PPP và trái phiếu xanh sẽ mở đường cho thị trường carbon và các dự án hạ tầng. Đồng thời, thị trường cần cơ cấu lại nền tảng nhà đầu tư, giảm tỷ lệ 98-99% tài khoản cá nhân thông qua việc mở rộng các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư định chế chuyên nghiệp và thúc đẩy niêm yết doanh nghiệp FDI.

Bên cạnh các kênh truyền thống, Phó Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam Nguyễn Vân Hiền cho biết kênh token hóa tài sản thực (RWA) đang được nghiên cứu thử nghiệm. Việc phát triển công cụ này đòi hỏi quy chuẩn pháp lý rõ ràng, bảo đảm khả năng xác thực dữ liệu tài sản cơ sở và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nhằm phòng ngừa rủi ro cho toàn hệ thống tài chính.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Nhu cầu vốn 38,5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2030: Thị trường vốn cần chia sẻ áp lực tín dụng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO