Giá lúa gạo hôm nay 27/7 đi ngang, xuất khẩu đạt 5,3 triệu tấn thu 2,52 tỷ USD
Thị trường lúa gạo ngày 27/7 tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục ổn định. Tính đến 15/7, Việt Nam xuất khẩu 5,3 triệu tấn gạo, tăng 6,5% so với cùng kỳ.
Thị trường lúa gạo ngày 27/7 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái đi ngang ở tất cả các phân khúc từ lúa tươi, gạo nguyên liệu đến gạo bán lẻ. Theo dữ liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, cân bằng cung cầu giữ cho mặt bằng giá không biến động so với phiên cuối tuần trước.
Mặt bằng giá lúa tươi và gạo nguyên liệu trong nước
Tại khu vực nội địa, giá lúa tươi thu mua tại ruộng không ghi nhận điều chỉnh mới. Cụ thể, lúa IR 50404 giao dịch ở mức 6.200 đồng/kg; lúa OM 34 dao động từ 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa OM 5451 giữ mức 6.200 - 6.400 đồng/kg. Các dòng lúa chất lượng cao như Đài Thơm 8 và OM 18 cùng giữ mức 6.800 - 7.000 đồng/kg (riêng Đài Thơm 8 có sàn thu mua từ 6.850 đồng/kg).
Đối với phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, gạo IR 504 neo ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg. Dòng gạo CL 555 tiếp tục duy trì mức giá cao nhất nhóm gạo trắng với 9.700 - 9.800 đồng/kg. Dòng OM 5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 giao dịch từ 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 đạt 8.700 - 8.850 đồng/kg. Hai nhóm OM 380 và Sóc Thơm duy trì quanh mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại thị trường bán lẻ ở các chợ truyền thống, gạo Nàng Nhen tiếp tục dẫn đầu về mức giá với 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng dao động quanh 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg. Các mặt hàng gạo phổ thông như Jasmine có giá 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm và OM 18 từ 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo thường giao dịch từ 13.000 - 14.000 đồng/kg. Mặt hàng nếp IR 4625 tươi giữ mức 7.300 - 7.500 đồng/kg, nếp khô 3 tháng đạt 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Thị trường xuất khẩu và vị thế cạnh tranh quốc tế
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam không có biến động so với phiên trước. Gạo Jasmine hiện chào bán trong khoảng 546 - 550 USD/tấn. Phân khúc gạo thơm 5% tấm dao động từ 500 - 510 USD/tấn, còn gạo thơm 100% tấm ghi nhận mức 353 - 357 USD/tấn.
So với các đối thủ cạnh tranh chính tại châu Á, gạo Việt Nam tiếp tục duy trì khoảng cách giá cao hơn. Cụ thể, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện chào bán ở mức 445 - 449 USD/tấn, trong khi gạo Ấn Độ đạt 361 - 365 USD/tấn. Ở phân khúc gạo 100% tấm, Thái Lan giao dịch ở mức 390 - 394 USD/tấn và Ấn Độ dao động từ 290 - 294 USD/tấn.
Cơ cấu thị trường và kim ngạch xuất khẩu
Báo cáo tổng hợp từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Công Thương cho thấy, tính đến ngày 15/7, tổng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 5,3 triệu tấn, mang về kim ngạch 2,52 tỷ USD. Số liệu này đánh dấu mức tăng 6,5% về khối lượng so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, do nguồn cung toàn cầu dồi dào và áp lực cạnh tranh gia tăng, giá xuất khẩu bình quân trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 460 USD/tấn, giảm hơn 11% so với cùng kỳ năm 2025. Về cơ cấu thị trường tiêu thụ, Philippines tiếp tục là đối tác nhập khẩu lớn nhất khi chiếm 45% tổng kim ngạch. Trung Quốc đứng vị trí thứ hai với 19,4%, tiếp theo là Ghana chiếm 8,5%.