Giá lúa gạo ngày 10/8 đi ngang: Lúa OM 18 giữ mốc 7.000 đồng/kg, xuất khẩu 7 tháng đạt 2,64 tỷ USD
Thị trường lúa gạo ngày 10/8 tại Đồng bằng sông Cửu Long đi ngang, lúa OM 18 duy trì mức 7.000 đồng/kg. Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đạt 2,64 tỷ USD, giảm 6,7% về giá trị.
Thị trường lúa gạo ngày 10/8 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục đi ngang với giao dịch khá trầm lắng. Mặt bằng giá lúa tươi, gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ duy trì ổn định, trong khi xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm đạt 5,5 triệu tấn, thu về 2,64 tỷ USD.
Mặt bằng giá lúa tươi và gạo nguyên liệu trong nước
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi trên địa bàn ghi nhận trạng thái đi ngang. Cụ thể, lúa Đài Thơm 8 và OM 18 cùng giữ mức thu mua 6.900 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 5451 dao động ở mức 6.700 - 6.800 đồng/kg; lúa IR 50404 đạt 6.300 - 6.400 đồng/kg và lúa OM 34 duy trì khoảng 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Đối với phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá IR 504 hiện ở mức 9.700 - 9.800 đồng/kg, gạo CL 555 đạt 9.750 - 9.850 đồng/kg, còn OM 5451 dao động từ 9.300 - 9.400 đồng/kg.

Bên cạnh đó, gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 được giao dịch ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Nhóm phụ phẩm cũng duy trì ổn định với tấm thơm ở mức 8.600 - 8.700 đồng/kg và cám dao động từ 7.700 - 7.850 đồng/kg.
Thị trường gạo bán lẻ và áp lực cạnh tranh xuất khẩu
Tại các chợ dân sinh, giá gạo bán lẻ không xuất hiện điều chỉnh mới. Gạo Nàng Nhen niêm yết mức cao nhất 28.000 đồng/kg, Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái hạt dài từ 20.000 - 22.000 đồng/kg, gạo Jasmine khoảng 16.500 - 17.500 đồng/kg và gạo thường ở mức 13.500 - 14.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá chào bán gạo Việt Nam giữ nguyên so với cuối tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 500 - 510 USD/tấn, gạo Jasmine đạt 541 - 545 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm niêm yết ở mức 367 - 371 USD/tấn.
| Quốc gia | Gạo 5% tấm (USD/tấn) | Gạo 100% tấm (USD/tấn) |
|---|---|---|
| Việt Nam | 500 - 510 | 367 - 371 |
| Thái Lan | 450 - 454 | 377 - 381 |
| Ấn Độ | 361 - 365 | 292 - 296 |
Sự chênh lệch giá phản ánh áp lực cạnh tranh gay gắt ở phân khúc gạo trắng phổ thông từ các đối thủ lớn như Thái Lan và Ấn Độ. Trong quý I/2026, giá xuất khẩu gạo bình quân của Việt Nam ghi nhận quanh mức 470 USD/tấn, giảm gần 10% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đạt 2,64 tỷ USD
Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Công Thương cho thấy, trong tháng 7/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 505.000 tấn gạo, thu về 252,8 triệu USD. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, khối lượng xuất khẩu đạt khoảng 5,5 triệu tấn với trị giá 2,64 tỷ USD, tăng 0,5% về lượng nhưng giảm 6,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong ngắn hạn vẫn duy trì trạng thái đi ngang. Diễn biến giá lúa nội địa tại Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới sẽ phụ thuộc lớn vào tiến độ ký kết đơn hàng mới và nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường trọng điểm như Philippines hay Trung Quốc.