Xuất khẩu cao su đạt 1,55 tỷ USD: Thị trường tín chỉ carbon tạo động lực gia tăng giá trị

Lâm Ai16/08/2026 04:01

Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cao su đạt 1,55 tỷ USD với giá trung bình 1.963 USD/tấn. Ngành cao su đang tích cực chuẩn bị tham gia thị trường carbon.

Theo dữ liệu từ Bộ NN&MT, trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt khoảng 789,5 nghìn tấn với trị giá 1,55 tỷ USD. Mặc dù lượng xuất khẩu giảm nhẹ so với cùng kỳ, giá xuất khẩu bình quân ghi nhận mức tăng 8,9%, đạt 1.963 USD/tấn. Trong bối cảnh thị trường quốc tế đặt tiêu chuẩn cao về phát triển bền vững, việc thương mại hóa tín chỉ carbon đang được xem là giải pháp chiến lược để củng cố sức cạnh tranh cho ngành.

Phần lớn diện tích cao su hiện nay được quy hoạch là đất trồng cây lâu năm thay vì đất lâm nghiệp - Ảnh minh họa
Phần lớn diện tích cao su hiện nay được quy hoạch là đất trồng cây lâu năm thay vì đất lâm nghiệp - Ảnh minh họa

Nguồn thu mới từ tiềm năng hấp thụ carbon

Cây cao su có chu kỳ kinh doanh từ 25-35 năm, sở hữu sinh khối lớn cùng khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon đáng kể. Việc tham gia thị trường carbon giúp các doanh nghiệp tạo thêm giá trị gia tăng ngoài sản phẩm mủ cao su truyền thống, đồng thời đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng 0 và Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.

TS. Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm thuộc Bộ NN&MT, phân tích rằng doanh nghiệp cao su có thể tiếp cận cơ hội qua thị trường tuân thủ và thị trường tự nguyện, cũng như các cơ chế hợp tác theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Tuy nhiên, yếu tố quyết định để chuyển đổi tiềm năng này thành giá trị tài chính chính là tính minh bạch và độ chính xác của hệ thống dữ liệu.

Bài toán pháp lý đất đai và hạ tầng dữ liệu

Hiện nay, một số doanh nghiệp quy mô lớn đã xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu toàn diện. Ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học - Công nghệ thuộc Tổng công ty Cao su Đồng Nai (DONARUCO), cho biết đơn vị đang quản lý khoảng 31.000 ha cao su, trong đó hơn 9.000 ha đã đạt chứng nhận quản lý rừng bền vững VFCS/PEFC. Việc lưu trữ chi tiết dữ liệu về từng lô đất, tuổi cây, chủng giống và định mức vật tư qua nhiều năm là cơ sở then chốt để tính toán lượng phát thải và hấp thụ carbon.

Dù vậy, quá trình triển khai thực tế vẫn đối mặt với rào cản pháp lý. Phần lớn diện tích cây cao su hiện quy hoạch dưới dạng đất trồng cây lâu năm thay vì đất lâm nghiệp. Điều này đặt ra yêu cầu phải làm rõ tính phù hợp của phương pháp quản lý rừng cải tiến (IFM) áp dụng trên đất trồng cây lâu năm, cũng như tư cách pháp lý của doanh nghiệp thuê đất khi đăng ký dự án tín chỉ carbon.

Phân biệt tín chỉ carbon và dấu chân carbon để tối ưu chi phí

Theo TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận quản lý rừng bền vững, doanh nghiệp cần phân biệt rõ giữa hai khái niệm: tạo tín chỉ carbon để thương mại hóa và giảm dấu chân carbon trên từng đơn vị sản phẩm. Tín chỉ carbon là hàng hóa giao dịch, trong khi chỉ số dấu chân carbon phản ánh tổng lượng phát thải từ khâu trồng, chế biến đến vận chuyển, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh tại các thị trường khắt khe.

Dữ liệu thị trường quốc tế cho thấy giá trị tín chỉ có sự phân hóa rõ rệt. Các dự án phát triển và phục hồi rừng đạt tiêu chuẩn chất lượng cao có thể giao dịch ở mức gần 30 USD/tín chỉ, vượt trội so với các sản phẩm tín chỉ chất lượng thấp.

Do quy trình phát triển dự án carbon đòi hỏi các bước thẩm định độc lập, đo đạc và báo cáo phức tạp với chi phí cố định lớn, đại diện DONARUCO đề xuất phương án phát triển dự án ở quy mô tập đoàn. Việc tích hợp nhiều đơn vị thành viên vào một dự án lớn sẽ giúp tối ưu hóa chi phí tư vấn, giám sát và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Trong bối cảnh Việt Nam dự kiến khởi động sàn giao dịch carbon từ cuối tháng 6/2026, ngành cao su đứng trước thời điểm quan trọng để chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý cùng nỗ lực số hóa dữ liệu của doanh nghiệp sẽ là nền tảng nâng cao giá trị xuất khẩu bền vững.

Lâm Ai