Xuất khẩu sầu riêng đạt mốc 3,85 tỷ USD và giải pháp tháo gỡ nút thắt cho chuỗi cung ứng

Lâm Ai22/08/2026 04:21

Từ mốc 180 triệu USD lên 3,85 tỷ USD năm 2025, ngành sầu riêng đối mặt thách thức lớn về kiểm soát chất lượng đầu vào, hạ tầng vận tải và mã số vùng trồng.

Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam đã ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ trong những năm gần đây. Từ mức khiêm tốn khoảng 180 triệu USD vào năm 2021, giá trị xuất khẩu mặt hàng này đã vượt ngưỡng 2 tỷ USD vào năm 2023 và chính thức đạt mốc 3,85 tỷ USD vào năm 2025. Hiện sầu riêng đã vươn lên giữ vị trí số một trong cơ cấu các mặt hàng rau quả xuất khẩu của cả nước. Dù tăng trưởng vượt bậc, chuỗi cung ứng ngành hàng này đang phải đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật và logistics cần sớm được xử lý.

Ông Vũ Duy Hải, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacam
Ông Vũ Duy Hải, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacam - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Kiểm soát chất lượng từ vật tư nông nghiệp đầu vào

Chất lượng và tiêu chuẩn kiểm dịch hiện là thách thức lớn nhất khi các thị trường quốc tế liên tục siết chặt quy định về dư lượng hóa chất. Theo đánh giá từ các hiệp hội ngành hàng, việc kiểm soát không thể chỉ dừng lại ở khâu kiểm tra trước thông quan mà phải quản trị nghiêm ngặt ngay từ nguồn vật tư nông nghiệp ban đầu.

Ông Vũ Duy Hải, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacam chỉ ra rằng thị trường đang có khoảng 29.000 tên sản phẩm phân bón được cấp phép lưu hành. Tình trạng bao bì lập lờ thông tin, thành phần thực tế in nhỏ ở mặt sau đang gây rủi ro trực tiếp đến quá trình sinh trưởng của cây trồng và làm gia tăng nguy cơ tồn dư hóa chất. Ông đề xuất cơ quan quản lý cần siết chặt kiểm duyệt bao bì, đẩy mạnh hậu kiểm và quy định nghiêm ngặt mức giới hạn Cadimi trong phân bón. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích sử dụng dòng phân bón DAP hàm lượng Cadimi thấp kết hợp chất cải tạo đất.

Đối với vấn đề xử lý sau thu hoạch, ông Vũ Duy Hải cũng khuyến nghị cơ quan chuyên môn nhanh chóng nghiên cứu, công bố các chế phẩm sinh học hoặc hóa học an toàn để thay thế chất Vàng O, loại bỏ hoàn toàn các nguy cơ bị cảnh báo từ thị trường nhập khẩu.

Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group
Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Bài toán hạ tầng logistics, công nghệ chế biến và mã số vùng trồng

Bên cạnh yếu tố canh tác, hạ tầng logistics và công nghệ sau thu hoạch đóng vai trò then chốt trong việc duy trì chuỗi giá trị bền vững. Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group phân tích rằng sầu riêng là loại trái cây có đặc thù thời gian chín ngắn, do đó bất kỳ sự cố ách tắc nào trong vận chuyển hay thông quan đều có thể dẫn đến thiệt hại lớn.

Trước áp lực rào cản kỹ thuật với trái tươi, giải pháp cấp đông để xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, châu Âu đã chứng minh tính hiệu quả. Ông Tùng đề xuất chính sách cần khuyến khích đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ chế biến sâu, kho lạnh bảo quản nhằm giảm tải áp lực tiêu thụ quả tươi trong vụ thu hoạch cao điểm. Về mặt vận tải, hiện chi phí đường bộ đang ở mức cao (khoảng 3.000 - 4.000 USD/chuyến) và dễ gây ùn tắc tại các cửa khẩu phía Bắc, do đó việc chuyển đổi sang phương thức vận tải đường biển kết hợp cơ chế luồng xanh hải quan là hướng đi chiến lược.

Yếu tố chuỗi giá trịThực trạng hiện tạiGiải pháp đề xuất
Kim ngạch xuất khẩu180 triệu USD (2021) tăng lên 3,85 tỷ USD (2025)Duy trì đà tăng trưởng gắn liền tiêu chuẩn chất lượng
Phương thức vận tảiPhụ thuộc lớn vào đường bộ, chi phí 3.000 - 4.000 USD/chuyếnĐẩy mạnh vận tải đường biển, kết nối dữ liệu hải quan
Kiểm nghiệm chất lượngHơn 50 phòng kiểm nghiệm nhưng thiếu tại vùng trọng điểmXã hội hóa đầu tư phòng kiểm nghiệm tại chỗ như Tây Nguyên

Nâng cao năng lực kiểm nghiệm tại các vùng trồng trọng điểm

Đồng tình với định hướng quản trị rủi ro, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề xuất các cơ quan chức năng cần ban hành hướng dẫn cụ thể về quy trình xử lý Cadimi trong đất. Việc kiểm tra và cấp phép cần thực hiện ngay từ danh sách hộ dân và vùng trồng trước khi thu hoạch để tránh tổn thất cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Bên cạnh đó, mặc dù cả nước hiện có hơn 50 cơ sở kiểm nghiệm được đối tác Trung Quốc chấp thuận, song hệ thống này tại các vùng sản xuất lớn như Tây Nguyên vẫn còn mỏng. Hiệp hội kiến nghị cần đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư các phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn ngay tại địa bàn sản xuất tập trung, giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, tiết kiệm chi phí và giữ trọn thời điểm vàng cho sản phẩm xuất khẩu.

Lâm Ai