Giá lúa gạo hôm nay 11/9: Gạo xuất khẩu điều chỉnh giảm 5 USD/tấn, thị trường nội địa đi ngang
Thị trường gạo xuất khẩu ngày 11/9 ghi nhận mức giảm 5 USD/tấn ở dòng gạo thơm, trong khi giá thu mua lúa tươi và gạo bán lẻ tại Đồng bằng sông Cửu Long đi ngang.
Thị trường lúa gạo ngày 11/09/2026 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái ổn định với thanh khoản thấp. Trong khi mặt bằng giá tiêu thụ nội địa gần như đi ngang, thị trường xuất khẩu chứng kiến đợt điều chỉnh giảm nhẹ ở các dòng sản phẩm gạo thơm chủ lực.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam điều chỉnh giảm
Theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, bảng giá chào bán gạo xuất khẩu ghi nhận sự suy giảm so với các phiên đầu tuần. Cụ thể, gạo thơm 5% tấm hiện được giao dịch trong biên độ 445 - 450 USD/tấn, giảm 5 USD/tấn. Tương tự, mặt hàng gạo thơm 100% tấm cũng hạ 5 USD/tấn, xuống dao động quanh mốc 367 - 371 USD/tấn. Riêng gạo Jasmine giữ nguyên giá chào ở mức 534 - 538 USD/tấn.
Diễn biến trên sàn xuất khẩu của các nước trong khu vực cũng phản ánh sự phân hóa:
| Quốc gia | Loại gạo | Mức giá (USD/tấn) | Biến động |
|---|---|---|---|
| Việt Nam | Gạo thơm 5% tấm | 445 - 450 | Giảm 5 USD/tấn |
| Việt Nam | Gạo thơm 100% tấm | 367 - 371 | Giảm 5 USD/tấn |
| Thái Lan | Gạo 5% tấm | 478 - 482 | Đi ngang |
| Thái Lan | Gạo 100% tấm | 374 - 378 | Đi ngang |
| Ấn Độ | Gạo 5% tấm | 370 - 374 | Giảm 1 USD/tấn |
| Ấn Độ | Gạo 100% tấm | 306 - 310 | Tăng 2 USD/tấn |
Dữ liệu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cho thấy chỉ số giá gạo thế giới trong thời gian chịu ảnh hưởng của hiện tượng El Niño từng ghi nhận mức tăng hơn 28% so với cùng kỳ, chạm ngưỡng cao nhất trong 15 năm. Nhằm ưu tiên an ninh lương thực trong nước, các nhà cung cấp lớn như Ấn Độ và Việt Nam duy trì định hướng giám sát chặt chẽ hoạt động xuất khẩu.
Thị trường nội địa: Giá lúa tươi và nguyên liệu giữ nhịp ổn định
Tại An Giang, số liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho thấy một số chủng loại gạo nguyên liệu xuất khẩu có sự điều chỉnh nhẹ. Gạo nguyên liệu IR 504 và CL 555 cùng giảm 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 8.650 - 8.700 đồng/kg. Các chủng loại khác giữ giá: OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 đạt 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo OM 380 và Sóc thơm neo ở mốc 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Nhóm phụ phẩm duy trì giao dịch ổn định từ 7.450 - 8.400 đồng/kg. Cụ thể, tấm thơm neo ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg, còn cám dao động 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Tại các điểm bán lẻ, biểu giá gạo thương phẩm tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen niêm yết mức cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật giữ giá 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài đạt 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm và OM 18 dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg và gạo thường dao động 13.500 - 15.000 đồng/kg.

Đối với phân khúc nếp, giá nếp 3 tháng khô ổn định ở 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp tươi IR 4625 neo ở 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Khảo sát tại các vùng trồng lúa trọng điểm như Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Tây Ninh và Vĩnh Long, hoạt động giao dịch mới diễn ra cầm chừng do sức mua hạn chế. Giá lúa tươi OM 18 đạt 6.400 - 6.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 6.300 - 6.400 đồng/kg; OM 5451 giữ mức 6.100 - 6.300 đồng/kg; IR 50404 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg và OM 34 ở ngưỡng 5.800 - 5.900 đồng/kg.