Giá lúa gạo ngày 23/9: Lúa tươi đồng loạt tăng 100 đồng/kg, gạo nguyên liệu điều chỉnh giảm
Thị trường lúa gạo ngày 23/9 ghi nhận lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long tăng 100 đồng/kg, trong khi giá gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh giảm nhẹ.
Thị trường lúa gạo ngày 23/9 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chứng kiến sự biến động trái chiều giữa hai phân khúc lúa tươi và gạo nguyên liệu xuất khẩu. Trong khi giá lúa tươi tại nhiều địa phương đảo chiều tăng 100 đồng/kg, các mặt hàng gạo nguyên liệu lại ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ từ 50 đến 100 đồng/kg.
Lúa tươi đồng loạt tăng giá, giao dịch duy trì ổn định
Theo khảo sát tại các vùng canh tác trọng điểm, phân khúc lúa tươi ghi nhận mức điều chỉnh tăng nhẹ trên diện rộng. Cụ thể, các giống lúa OM 18 và OM 5451 cùng tăng 100 đồng/kg, hiện được thương lái thu mua trong khoảng 6.000 - 6.100 đồng/kg. Giống IR 50404 cũng tăng thêm 100 đồng/kg, đạt mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg. Giá lúa OM 34 dao động quanh mức 5.700 - 5.900 đồng/kg sau khi tăng 100 đồng/kg so với phiên trước. Riêng giống Đài Thơm 8 duy trì sự ổn định, neo trong khoảng 6.100 - 6.200 đồng/kg.
| Chủng loại lúa | Biến động (VND/kg) | Mức giá giao dịch (VND/kg) |
|---|---|---|
| Lúa tươi OM 18 | +100 | 6.000 - 6.100 |
| Lúa tươi OM 5451 | +100 | 6.000 - 6.100 |
| Lúa tươi IR 50404 | +100 | 5.900 - 6.000 |
| Lúa tươi OM 34 | +100 | 5.700 - 5.900 |
| Lúa tươi Đài Thơm 8 | 0 | 6.100 - 6.200 |
Đối với phân khúc nếp, thị trường không ghi nhận biến động mới. Mặt hàng nếp 3 tháng khô tiếp tục giữ giá ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp tươi IR 4625 dao động trong biên độ 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu giảm nhẹ, giá bán lẻ ổn định
Trái ngược với xu hướng đi lên của lúa tươi, nguồn cung gạo nguyên liệu xuất khẩu tại tỉnh An Giang có xu hướng điều chỉnh giảm. Theo số liệu từ cơ quan nông nghiệp địa phương, gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 100 đồng/kg, xuống mức 8.600 - 8.700 đồng/kg. Tương tự, gạo nguyên liệu IR 504 giảm 50 đồng/kg, hiện thu mua trong khoảng 8.600 - 8.700 đồng/kg.
Các mặt hàng gạo nguyên liệu khác vẫn duy trì sự ổn định: OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 đồng/kg. Hai loại gạo OM 380 và Sóc thơm tiếp tục neo quanh mốc 7.500 - 7.600 đồng/kg. Thị trường phụ phẩm cũng duy trì sự cân bằng, với tấm thơm 3 - 4 dao động từ 8.500 - 8.600 đồng/kg và giá cám ở mức 7.300 - 7.650 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá các mặt hàng gạo thông dụng tiếp tục bình giá. Gạo Nàng Nhen giữ mức cao nhất là 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật niêm yết ở mốc 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa có giá 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài từ 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine giữ mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo OM 18 đạt 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo Đài Thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg và gạo thường dao động 14.000 - 15.000 đồng/kg.

Diễn biến cung cầu và thị trường xuất khẩu
Về tình hình thu hoạch tại các vùng sản xuất, vụ lúa Hè Thu hiện đã vãn đồng, trong khi lúa Thu Đông bắt đầu được chào bán với sản lượng tương đối tại một số khu vực. Tại Cần Thơ, sản lượng lúa Thu Đông chào bán ra thị trường ở mức khá, mặt bằng giá ít thay đổi. Tại An Giang, sản lượng lúa vụ cũ không còn nhiều, tạo lực đỡ giúp giá một số dòng lúa tươi tăng nhẹ. Trong khi đó, tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tây Ninh và Vĩnh Long, các giao dịch thương mại vẫn diễn ra với nhịp độ chậm.
Trên thị trường quốc tế, giá chào bán gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục giữ mức ổn định. Số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết gạo thơm 5% tấm dao động trong biên độ 440 - 445 USD/tấn; phân khúc gạo thơm Jasmine chào bán quanh mức 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm giữ mốc 368 - 372 USD/tấn.
So sánh với các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện dao động trong khoảng 477 - 481 USD/tấn và gạo 100% tấm đạt 373 - 377 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được giao dịch trong ngưỡng 375 - 379 USD/tấn, trong khi dòng gạo 100% tấm đứng ở mức 307 - 311 USD/tấn.