Giá lúa gạo ngày 27/9: CL 555 và IR 504 giữ giá 8.800 đồng/kg tại Đồng bằng sông Cửu Long
Thị trường lúa gạo ngày 27/9 tại miền Tây duy trì ổn định, gạo nguyên liệu CL 555 và IR 504 giữ mức cao, trong khi lúa tươi đi ngang chờ nguồn cung vụ mới.
Ghi nhận tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 27/9, thị trường lúa gạo tiếp tục duy trì mặt bằng giá ổn định sau nhịp điều chỉnh của các nhóm gạo nguyên liệu. Đáng chú ý, hai chủng loại CL 555 và IR 504 tiếp tục giữ vững vùng giá đã xác lập sau khi tăng nhẹ ở các phiên trước, trong khi thị trường lúa tươi chưa ghi nhận biến động mới trong bối cảnh nguồn cung đang chuyển dần sang vụ Thu Đông.
Gạo nguyên liệu duy trì mặt bằng giá mới
Diễn biến giao dịch ngày 27/9 cho thấy nhóm gạo nguyên liệu duy trì trạng thái đi ngang. Trong đó, chủng loại CL 555 hiện được giao dịch phổ biến trong khoảng 8.700 - 8.800 đồng/kg, còn IR 504 neo ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg. Trước đó, thị trường đã ghi nhận mức tăng 100 đồng/kg đối với CL 555 và 50 đồng/kg đối với IR 504.

Việc hai chủng loại trên bảo toàn được mức giá phản ánh nhu cầu thu mua nguyên liệu của các doanh nghiệp chế biến đã có sự cải thiện cục bộ. Dù vậy, lực mua nhìn chung vẫn có sự phân hóa rõ nét giữa các phân khúc sản phẩm:
| Chủng loại gạo nguyên liệu | Vùng giá giao dịch (đồng/kg) |
|---|---|
| OM 5451 | Lên đến 9.400 |
| Đài Thơm 8 | Lên đến 9.400 |
| CL 555 | 8.700 - 8.800 |
| OM 18 | 8.700 - 8.850 |
| IR 504 | 8.650 - 8.750 |
| OM 380 | 7.500 - 7.600 |
| Sóc thơm | 7.500 - 7.600 |
Giá lúa tươi chưa bắt nhịp cùng gạo nguyên liệu
Trái ngược với xu hướng giữ giá ở mức cao của gạo thành phẩm và gạo nguyên liệu, giá lúa tươi tại ruộng trong ngày 27/9 vẫn chưa ghi nhận nhịp tăng tương ứng. Nhu cầu từ các thương lái và doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc bổ sung kho nguyên liệu phục vụ hợp đồng ngắn hạn, thay vì mở rộng diện thu mua lúa đại trà.
Cụ thể, lúa Đài Thơm 8 tiếp tục giữ mức giá cao nhất trên thị trường lúa tươi, dao động từ 6.100 - 6.200 đồng/kg. Các giống lúa OM 18 và OM 5451 được thu mua trong khoảng 6.000 - 6.100 đồng/kg. Đối với phân khúc phổ thông, IR 50404 đạt mức 5.900 - 6.000 đồng/kg và OM 34 dao động trong ngưỡng 5.700 - 5.900 đồng/kg.
Thị trường bán lẻ và xuất khẩu duy trì thế cân bằng
Tại kênh phân phối bán lẻ, bảng giá các mặt hàng gạo tiêu dùng không có sự điều chỉnh. Gạo Nàng Nhen giữ mức tham chiếu cao nhất là 28.000 đồng/kg; Hương Lài và Gạo Nhật cùng được bán quanh mốc 22.000 đồng/kg; Gạo thơm Thái hạt dài ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa đạt khoảng 21.000 đồng/kg; Jasmine dao động 17.000 - 18.000 đồng/kg; OM 18 ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg; Đài Thơm từ 15.000 - 16.000 đồng/kg và các loại gạo thường ở ngưỡng 14.000 - 15.000 đồng/kg. Nhóm phụ phẩm cũng giữ giá ổn định với tấm thơm 3 - 4 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg và cám dao động 7.300 - 7.650 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá chào bán gạo Việt Nam tiếp tục giữ trạng thái đi ngang. Gạo Jasmine Việt Nam neo ở vùng 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm đạt 440 - 445 USD/tấn; trong khi gạo thơm 100% tấm ở mức 368 - 372 USD/tấn. Đặt trong tương quan khu vực, gạo 5% tấm của Thái Lan đang chào bán ở mức 477 - 481 USD/tấn và gạo 100% tấm ở 373 - 377 USD/tấn; còn gạo 5% tấm của Ấn Độ dao động quanh ngưỡng 375 - 379 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 307 - 311 USD/tấn.
Hiện tại, mức giá chào xuất khẩu vẫn chưa tạo đủ lực kéo để thúc đẩy mặt bằng giá lúa trong nước tăng theo gạo nguyên liệu. Do nguồn cung lúa vụ Hè Thu đã cạn dần và lúa Thu Đông bắt đầu thu hoạch rải rác, diễn biến thị trường trong những phiên tới sẽ phụ thuộc lớn vào tốc độ đưa hàng ra thị trường cũng như tiến độ ký kết hợp đồng mới của các doanh nghiệp xuất khẩu.