Quy mô tài sản ngành ngân hàng tăng 20% lên 22,6 triệu tỷ đồng, song tỷ lệ LDR chạm 88% và biên lãi thuần sụt giảm đang tạo áp lực lên lợi nhuận toàn ngành.
Báo cáo tổng hợp từ NSI cho thấy tổng tài sản toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam tính đến cuối quý II/2026 đạt khoảng 22,6 triệu tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,73% so với thời điểm đầu năm. Cùng với đó, tổng vốn chủ sở hữu đạt khoảng 1,92 triệu tỷ đồng, ghi nhận mức tăng 19,6% theo năm và 8% tính từ đầu năm.
Tốc độ mở rộng bảng cân đối kế toán ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa các định chế tài chính. Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn ghi nhận quy mô tổng tài sản tăng khoảng 22% so với cùng kỳ năm trước, dẫn trước mức tăng 18% của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và 16% của khối ngân hàng thương mại nhà nước.

Ở chiều ngược lại, tốc độ gia tăng vốn chủ sở hữu ghi nhận mức cao nhất tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ với tỷ lệ tăng khoảng 29%. Nhóm ngân hàng quốc doanh đạt mức tăng 20%, trong khi khối ngân hàng tư nhân lớn đạt khoảng 17%.
Xét theo từng đơn vị riêng lẻ, VPB dẫn đầu mức tăng trưởng tài sản so với cùng kỳ với 36%, tiếp theo là MBB với 34% và HDB với 33%. VCB ghi nhận mức tăng 20%. Tính từ đầu năm 2026 đến cuối quý II, tổng tài sản của VPB tăng khoảng 19%, HDB tăng 12%, VCB tăng 9%, CTG tăng 7% và BID tăng 3%. Động lực tăng trưởng được hỗ trợ bởi việc đẩy nhanh giải ngân tín dụng cùng hoạt động bán chéo dịch vụ trong hệ sinh thái tài chính tiêu dùng, chứng khoán và bảo hiểm.
Mặc dù quy mô bảng cân đối mở rộng, hiệu quả sinh lời giữa các nhóm định chế tài chính phản ánh sự cách biệt đáng kể:
| Chỉ tiêu tài chính (Quý II/2026) | Khối NHTM Nhà nước | Khối NHTM Cổ phần lớn | Khối NHTM Cổ phần nhỏ |
|---|---|---|---|
| Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) | 18,0% | 15,6% | 10,8% |
| Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) | 1,3% | 1,5% | 0,8% |
| Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) | 28,0% - 32,0% | 30,0% - 35,0% | 46,0% - 48,0% |
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập tại các ngân hàng tư nhân nhỏ ở mức 46,0% - 48,0%, cao hơn đáng kể so với mức 28,0% - 32,0% của khối quốc doanh và 30,0% - 35,0% của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn. Sự chênh lệch này cho thấy áp lực chi phí vận hành trên mỗi đơn vị doanh thu của các ngân hàng quy mô nhỏ vẫn ở mức cao.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt tốc độ huy động vốn đã đẩy tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) toàn ngành trong quý II/2026 tăng 2 điểm phần trăm so với quý trước, lên gần 88%. Nhóm ngân hàng tư nhân lớn chịu áp lực thanh khoản đáng kể nhất khi LDR tăng từ 94% ở quý I lên mức 96% ở quý II/2026. Chỉ số này tại nhóm ngân hàng quốc doanh đạt khoảng 89,6%, trong khi khối ngân hàng nhỏ duy trì ở mức 79%.
Tỷ lệ LDR neo cao khiến chi phí huy động chịu áp lực tăng, qua đó tác động trực tiếp lên biên lãi thuần (NIM). Tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn, NIM giảm từ vùng 3,7% trong giai đoạn cuối năm 2024 - đầu năm 2025 xuống còn khoảng 3,1% vào quý II/2026. Nhóm ngân hàng nhỏ duy trì NIM quanh mức 2,3% - 2,4%.
Trái lại, khối ngân hàng quốc doanh ghi nhận NIM phục hồi lên mức 2,4% trong quý II/2026 từ mức đáy 2,1% - 2,2% vào cuối năm 2025 nhờ nền tảng vốn huy động ổn định. Theo đánh giá từ NSI, những ngân hàng có lợi thế tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao như TCB hay MBB có khả năng kiểm soát chi phí vốn tốt hơn trong bối cảnh NIM toàn ngành khó phục hồi mạnh trong nửa cuối năm 2026.