Từ đầu năm 2027, lương tối thiểu vùng tăng 310.000-390.000 đồng mỗi tháng kéo mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa lên đến 28,5 triệu đồng.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.
Lương tối thiểu tháng là mức thấp nhất làm cơ sở thỏa thuận, trả lương cho lao động theo hình thức lương tháng, đảm bảo công việc hoặc chức danh của họ làm việc đủ thời giờ bình thường trong tháng và hoàn thành định mức hoặc công việc đã thỏa thuận mà không thấp hơn lương tối thiểu.
Cụ thể, vùng I lên 5,7 triệu; vùng II đạt 5,08 triệu; vùng III là 4,45 triệu và vùng IV lên 4,04 triệu đồng. Mức lương tối thiểu vùng tăng kéo theo mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng.
Lương tối thiểu vùng tăng cũng có thể tác động đến khoản đóng và quyền lợi bảo hiểm xã hội (BHXH) của người lao động.
Theo khoản 1, Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH đối với người lao động hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Vì vậy, nếu doanh nghiệp phải điều chỉnh mức lương theo công việc hoặc chức danh để đáp ứng mức tối thiểu mới, đồng thời khoản điều chỉnh thuộc tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, số tiền đóng BHXH của người lao động có thể tăng.

Khi tiền lương làm căn cứ đóng BHXH tăng, mức hưởng một số chế độ được tính dựa trên tiền lương đóng BHXH cũng có thể tăng theo.
Tuy nhiên, không phải mọi khoản trợ cấp hay chế độ BHXH đều tự động tăng. Mức hưởng cụ thể còn phụ thuộc vào thời gian tham gia, quá trình đóng và công thức tính của từng chế độ.
Tương tự BHXH, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cũng có thể chịu tác động từ việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng.
Theo Điều 34 Luật Việc làm 2025, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Đáng chú ý, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng tại thời điểm đóng.
Do đó, khi lương tối thiểu vùng tăng, mức trần tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cũng tăng theo.
Dù vậy, điều này không đồng nghĩa tất cả người lao động đều phải đóng bảo hiểm thất nghiệp nhiều hơn. Số tiền đóng thực tế chỉ tăng khi tiền lương thuộc căn cứ đóng của người lao động được điều chỉnh tăng.
Luật hiện hành quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc. Tiền hưởng tối đa không quá 5 lần lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố tại tháng cuối tham gia.
Như vậy, tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp cao nhất với lao động làm việc tại vùng I không quá 28,5 triệu; vùng II là 25,4 triệu; vùng III là 22,25 triệu và vùng IV lên 20,2 triệu đồng. Khoản trợ cấp thất nghiệp tối đa của lao động hai khu vực công - tư được tính theo lương tối thiểu vùng từ năm 2026 thay vì tách bạch như trước.
Mức hưởng tăng, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cũng tăng. Theo quy định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa của lao động trong doanh nghiệp bằng 20 lần lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố tại thời điểm đóng.
Theo đó, mức lương làm căn cứ tham gia bảo hiểm thất nghiệp cao nhất với lao động làm việc ở vùng I là 114 triệu đồng, tăng 7,8 triệu đồng so với trước. Vùng II là 101,6 triệu; vùng III 89 triệu và vùng IV 80,8 triệu đồng.