Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam chi 1,7 tỷ USD nhập thịt các loại, trong đó thịt trâu đông lạnh nhập từ thị trường Ấn Độ chiếm tỷ trọng cao với 498 triệu USD.
Theo số liệu sơ bộ từ Cục Hải quan do Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) công bố, trong 7 tháng đầu năm 2026, các doanh nghiệp trong nước đã nhập khẩu 595.700 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt với tổng kim ngạch 1,7 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, hoạt động nhập khẩu nhóm hàng này ghi nhận mức tăng 11,4% về lượng và tăng 32,4% về giá trị.
Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt lớn nhất của Việt Nam khi chiếm tỷ trọng 20,29% tổng sản lượng nhập khẩu toàn quốc. Lượng hàng nhập từ quốc gia Nam Á này đạt 120.800 tấn với giá trị 521,28 triệu USD, tăng lần lượt 26,5% về khối lượng và 55,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Xét theo cơ cấu mặt hàng, thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 18,89% tổng sản lượng nhưng chiếm đến 29,28% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước, đứng đầu về tỷ trọng kim ngạch. Cụ thể, Việt Nam đã chi khoảng 498 triệu USD để nhập khẩu 112.000 tấn thịt trâu tươi đông lạnh trong 7 tháng, với đơn giá nhập khẩu bình quân khoảng 4.450 USD/tấn (tương đương khoảng 116.000 đồng/kg).
Ngoài thịt trâu, cơ cấu nhập khẩu thịt của Việt Nam còn phân bổ ở các nhóm hàng chủ lực khác bao gồm thịt và phụ phẩm gia cầm tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chiếm 36,49%), thịt lợn các loại (chiếm 18,82%) và thịt bò (chiếm 5,85%). Các đối tác cung ứng ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao gồm có Mỹ, Brazil, Tây Ban Nha, Canada và Đức.
| Mặt hàng / Thị trường | Sản lượng (tấn) | Kim ngạch (triệu USD) | Tỷ trọng / Đặc điểm |
|---|---|---|---|
| Thịt trâu đông lạnh (Ấn Độ) | 112.000 | 498,00 | Giá nhập bình quân ~4.450 USD/tấn |
| Thịt lợn (19 thị trường) | 112.090 | 185,54 | Brazil dẫn đầu với 44,5% thị phần |
| Thịt gia cầm các loại | - | - | Chiếm 36,49% tổng sản lượng nhập |
| Thịt bò | - | - | Chiếm 5,85% tổng sản lượng nhập |
Đối với mặt hàng thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, Việt Nam đã nhập 112.090 tấn từ 19 thị trường với trị giá 185,54 triệu USD. Lượng thịt lợn nhập khẩu tăng 27,1% so với cùng kỳ, nhưng giá trị lại giảm 20,9% do giá nhập bình quân giảm 38,4% về mức 1.638 USD/tấn. Brazil giữ vị trí dẫn đầu nguồn cung thịt lợn với 44,5% thị phần, tiếp theo là Nga (21,41%), Tây Ban Nha (20,54%) và Đức (4,58%).
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu 10.700 tấn thịt và sản phẩm thịt trong 7 tháng, đạt kim ngạch 72,06 triệu USD. Mức này giảm 17,7% về sản lượng nhưng tăng 4,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025.
Hong Kong (Trung Quốc) tiếp tục là thị trường tiêu thụ thịt lớn nhất của Việt Nam với 3.400 tấn, trị giá 29,59 triệu USD (chiếm 32,37% thị phần xuất khẩu), giảm 42,8% về lượng và giảm 28% về giá trị. Riêng nhóm hàng thịt lợn xuất khẩu đạt 3.700 tấn với giá trị 31,77 triệu USD, phần lớn tiêu thụ tại thị trường Hong Kong. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Pháp, Singapore, Mỹ, Campuchia, Hà Lan và Đức tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định.