Thị trường lúa gạo ngày 26/9 tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận biến động trái chiều ở nhóm lúa tươi, trong khi giá gạo nguyên liệu và xuất khẩu giữ ổn định.
Thị trường lúa gạo ngày 26/9 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận diễn biến điều chỉnh trái chiều ở phân khúc lúa tươi. Trong khi chủng loại OM 18 ghi nhận mức tăng nhẹ, các giống lúa như OM 5451, IR 50404 và OM 34 lại đồng loạt giảm giá. Trái lại, phân khúc gạo nguyên liệu và giá chào bán xuất khẩu tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 tăng 100 đồng/kg, hiện được thu mua trong khoảng 6.000 - 6.100 đồng/kg. Ngược lại, lúa tươi OM 5451 giảm 150 đồng/kg, xuống mức 5.950 - 6.000 đồng/kg. Chủng loại IR 50404 cũng giảm 150 đồng/kg, dao động quanh 5.800 - 6.000 đồng/kg. Lúa OM 34 điều chỉnh giảm 50 đồng/kg, giao dịch từ 5.700 - 5.850 đồng/kg. Riêng giống lúa Đài Thơm 8 giữ giá ổn định trong khoảng 6.100 - 6.200 đồng/kg.
| Chủng loại lúa tươi | Giá thu mua (VND/kg) | Biến động so với phiên trước |
|---|---|---|
| OM 18 | 6.000 - 6.100 | Tăng 100 VND/kg |
| OM 5451 | 5.950 - 6.000 | Giảm 150 VND/kg |
| IR 50404 | 5.800 - 6.000 | Giảm 150 VND/kg |
| OM 34 | 5.700 - 5.850 | Giảm 50 VND/kg |
| Đài Thơm 8 | 6.100 - 6.200 | Không đổi |
Sự phân hóa này xuất hiện khi nguồn cung vụ Hè Thu đang cạn dần, trong lúc lúa vụ Thu Đông bắt đầu thu hoạch với sản lượng khá. Tại An Giang, hoạt động giao dịch lúa Thu Đông diễn ra đều đặn. Tại Cần Thơ, lượng lúa Thu Đông chào bán ra thị trường tương đối dồi dào, nông dân có xu hướng chào giá cao. Ngược lại, tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tây Ninh và Vĩnh Long, thanh khoản thị trường nhìn chung chưa thực sự sôi động.
Ở phân khúc nguyên liệu, giá thu mua duy trì biên độ ổn định. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 8.700 - 8.800 đồng/kg; IR 504 đạt 8.650 - 8.750 đồng/kg.

Bên cạnh đó, gạo nguyên liệu OM 5451 được giao dịch ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 đạt 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. Hai loại gạo OM 380 và Sóc thơm giữ mức 7.500 - 7.600 đồng/kg. Với nhóm phụ phẩm, giá tấm thơm 3 - 4 dao động 8.500 - 8.600 đồng/kg, trong khi giá cám tăng 50 đồng/kg, lên 7.450 - 7.700 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo Đài thơm tăng 500 đồng/kg, lên 15.500 - 16.000 đồng/kg. Gạo Nàng Nhen giữ mức cao nhất ở 28.000 đồng/kg. Các mặt hàng khác như Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg, Nàng Hoa 21.000 đồng/kg, thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg, thơm Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg và gạo thường dao động 14.000 - 15.000 đồng/kg.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá chào bán gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục duy trì mức cũ. Cụ thể, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 440 - 445 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 368 - 372 USD/tấn.
Cùng thời điểm trên thị trường quốc tế, gạo 5% tấm của Thái Lan được giao dịch quanh 477 - 481 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 373 - 377 USD/tấn. Trong khi đó, gạo 5% tấm của Ấn Độ dao động 375 - 379 USD/tấn và gạo 100% tấm niêm yết ở mức 307 - 311 USD/tấn.