Giá cà phê nội địa ngày 9/8 điều chỉnh giảm 500 đồng/kg xuống 96.300–97.000 đồng/kg. Thị trường quốc tế ghi nhận sự phân hóa giữa Arabica và Robusta.
Thị trường cà phê ngày 9/8/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các phân khúc. Tại thị trường nội địa, giá cà phê Tây Nguyên điều chỉnh giảm thêm 500 đồng/kg, giao dịch trong khoảng 96.300–97.000 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, giá Arabica giao dịch tại New York tăng hơn 4% nhờ sự suy yếu của đồng USD và tồn kho chạm mức thấp, trong khi giá Robusta tại London tiếp tục chịu áp lực do nguồn cung cải thiện.
Mặt bằng giá thu mua cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên giảm 500 đồng/kg so với phiên trước đó. Cụ thể, giá thu mua tại Đắk Nông ghi nhận ở mức 97.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai cùng duy trì mức giá 96.800 đồng/kg.

Tại Lâm Đồng, giá cà phê dao động quanh mức 96.300 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát. Sau chuỗi ngày tiến sát mốc 100.000 đồng/kg, thị trường nội địa đã trải qua hai phiên điều chỉnh giảm liên tiếp. Dù vậy, mức giá hiện tại vẫn duy trì ở mức cao do sự cân bằng tương đối giữa nguồn cung nội địa và nhu cầu thu mua. Diễn biến này cũng phản ảnh xu hướng giảm của Robusta trên sàn London khi tiến độ xuất khẩu của Việt Nam gia tăng và lượng tồn kho báo cáo tăng lên.
Trên sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 9/2026 giảm 11 USD/tấn (tương đương 0,29%), xuống mức 3.787 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 20 USD/tấn (tương đương 0,53%), còn 3.767 USD/tấn.
Trái ngược với đà đi xuống của Robusta, giá Arabica trên sàn New York ghi nhận đà phục hồi rõ nét. Hợp đồng Arabica giao tháng 9/2026 tăng 13,9 US cent/pound (tương đương 4,32%), đạt 335,55 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 9,8 US cent/pound (tương đương 3,2%), lên 315,9 US cent/pound.
Giá Arabica đạt mức cao nhất trong một tuần qua, được hỗ trợ bởi chỉ số DXY (đo lường sức mạnh đồng USD) giảm xuống mức thấp nhất trong 7 tuần. Đồng USD suy yếu giúp các hàng hóa định giá bằng đồng tiền này trở nên hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư.
Yếu tố tồn kho cũng đóng vai trò quyết định tới sự phân hóa. Tính đến ngày 7/8, tồn kho Arabica do ICE giám sát giảm xuống còn 244.172 bao, mức thấp nhất trong 2,5 năm. Ngược lại, tồn kho Robusta trên sàn ICE tăng lên 4.261 lô, ghi nhận mức cao nhất trong khoảng 4,5 tháng, tạo áp lực giảm giá cho dòng sản phẩm này.
Nguồn cung xuất khẩu từ Việt Nam đóng vai trò quan trọng đối với thị trường Robusta toàn cầu. Khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1,31 triệu tấn, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Việc gia tăng khối lượng xuất khẩu giúp giải tỏa lo ngại thiếu hụt nguồn cung ngắn hạn trên thị trường quốc tế.
Đối với Brazil, quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu thế giới, dữ liệu từ Đại học São Paulo (Cepea) cho thấy tổng sản lượng xuất khẩu cà phê niên vụ 2025–2026 (từ tháng 7/2025 đến tháng 6/2026) đạt 38,46 triệu bao (loại 60 kg), giảm 15,7% so với mức 45,62 triệu bao của niên vụ trước. Tuy nhiên, doanh thu xuất khẩu vẫn đạt xấp xỉ 14,6 tỷ USD nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng từ 332,6 USD/bao lên 379,1 USD/bao.
Trong tháng 6/2026, Brazil xuất khẩu 3,06 triệu bao cà phê, tăng so với 2,62 triệu bao cùng kỳ năm trước. Dù vậy, yếu tố thời tiết mưa nhiều tại các vùng trồng chính đang ảnh hưởng tới tiến độ thu hoạch niên vụ 2026–2027. Hiện khoảng 30% sản lượng cà phê tại Brazil chưa được thu hoạch, làm gia tăng lo ngại về chất lượng hạt sau các đợt mưa kéo dài trong tháng 7.
Trong ngắn hạn, thị trường cà phê dự báo tiếp tục trạng thái phân hóa. Arabica duy trì lực đỡ từ yếu tố tồn kho thấp và rủi ro thời tiết tại Brazil, trong khi giá Robusta bị khống chế bởi nguồn cung xuất khẩu gia tăng từ Việt Nam và lượng tồn kho trên sàn London.