Giá lúa gạo ngày 15/9: Gạo nguyên liệu xuất khẩu và phụ phẩm tăng từ 50 đến 200 đồng/kg

Lâm Ai•15/09/2026 07:42

Thị trường lúa gạo ngày 15/9 ghi nhận giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm tại miền Tây tăng nhẹ từ 50 - 200 đồng/kg, trong khi giá lúa tươi và gạo bán lẻ đi ngang.

Ghi nhận tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 15/9, thị trường lúa gạo ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu và phụ phẩm tăng nhẹ từ 50 - 200 đồng/kg, trong khi phân khúc lúa tươi và gạo bán lẻ tiếp tục xu hướng đi ngang. Hoạt động giao dịch nhìn chung diễn ra với tốc độ chậm do nguồn cung vụ Hè Thu dần thu hẹp.

Gạo nguyên liệu xuất khẩu và phụ phẩm nhích giá

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu hôm nay có sự điều chỉnh tăng ở một số chủng loại chủ lực. Cụ thể, gạo CL 555 tăng 100 đồng/kg, dao động ở mức 8.750 - 8.850 đồng/kg; gạo IR 504 tăng 50 đồng/kg, lên ngưỡng 8.650 - 8.750 đồng/kg.

Các chủng loại gạo nguyên liệu khác duy trì mức giá ổn định. Gạo OM 5451 tiếp tục giữ quanh mốc 9.300 - 9.400 đồng/kg, Đài Thơm 8 dao động từ 9.200 - 9.400 đồng/kg, OM 18 đạt khoảng 8.700 - 8.850 đồng/kg. Hai dòng gạo OM 380 và Sóc thơm cùng neo ở khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Mặt hàngGiá niêm yết (đồng/kg)Biến động
Gạo nguyên liệu CL 5558.750 - 8.850Tăng 100 đồng/kg
Gạo nguyên liệu IR 5048.650 - 8.750Tăng 50 đồng/kg
Gạo nguyên liệu OM 54519.300 - 9.400Ổn định
Gạo nguyên liệu Đài Thơm 89.200 - 9.400Ổn định
Tấm thơm 3 - 48.500 - 8.600Tăng 200 đồng/kg
Cám khô7.350 - 7.700Tăng 100 đồng/kg

Đối với nhóm phụ phẩm, mặt bằng giá ghi nhận tăng trên diện rộng từ 100 - 200 đồng/kg, hiện dao động trong biên độ 7.350 - 8.600 đồng/kg. Cụ thể, tấm thơm 3 - 4 tăng 200 đồng/kg, lên mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; giá cám điều chỉnh tăng 100 đồng/kg, dao động ở ngưỡng 7.350 - 7.700 đồng/kg.

Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu và phụ phẩm tăng tại Đồng bằng sông Cửu Long

Thị trường lúa tươi và gạo bán lẻ duy trì trạng thái ổn định

Trái ngược với đà tăng của gạo nguyên liệu, giá lúa tươi tại các vùng trọng điểm sản xuất không ghi nhận nhiều biến động. Nguồn lúa Hè Thu tại các cánh đồng hiện còn lại không nhiều, hoạt động hỏi mua mới diễn ra dè dặt. Tại An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ và Vĩnh Long, giao dịch thưa thớt, giá giữ ổn định; riêng Cà Mau ghi nhận nguồn cung khá và giá lúa có xu hướng tăng nhẹ.

Cụ thể, lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng neo ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động khoảng 6.100 - 6.200 đồng/kg; OM 5451 ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg và OM 34 dao động từ 5.800 - 6.000 đồng/kg. Nhóm nếp cũng giữ giá đi ngang, trong đó nếp 3 tháng khô giao dịch ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg, nếp IR 4625 tươi giữ mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Tại phân khúc bán lẻ, thị trường duy trì ổn định không có điều chỉnh mới. Gạo Nàng Nhen niêm yết ở mốc cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa đạt 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài và Sóc Thái ở ngưỡng 20.000 - 22.000 đồng/kg; các dòng gạo thông dụng dao động từ 13.500 - 16.500 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu giữ mức ổn định so với khu vực

Trên thị trường quốc tế, số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho thấy giá chào bán gạo xuất khẩu của Việt Nam không ghi nhận biến động mới. Theo đó, gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 445 - 450 USD/tấn; dòng gạo Jasmine đạt mức 534 - 538 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm giữ nguyên mức 367 - 371 USD/tấn.

So với các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, giá gạo Việt Nam duy trì khoảng cách cạnh tranh. Tại Thái Lan, gạo tiêu chuẩn 5% tấm dao động ở mức 478 - 482 USD/tấn và gạo 100% tấm từ 374 - 378 USD/tấn. Cùng phân khúc 5% tấm, gạo Pakistan giao dịch quanh mức 408 - 412 USD/tấn, trong khi gạo Ấn Độ dao động từ 370 - 374 USD/tấn và gạo 100% tấm đạt 306 - 310 USD/tấn.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Giá lúa gạo ngày 15/9: Gạo nguyên liệu xuất khẩu và phụ phẩm tăng từ 50 đến 200 đồng/kg
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO